một người lính nói về thế hệ mình
Do sống tại chiến trường hơn 5 năm, liên tục tác chiến và công tác dân vận lẫn truyền tin, Đoàn Tuấn có nhiều cơ hội gặp gỡ, tiếp xúc với người dân, nhờ vậy, "Mùa chinh chiến ấy" còn là những trang bút ký về sinh hoạt của người dân bản xứ với nhiều chi tiết chân thật và độc đáo. Có thể nói, từ góc nhìn của người lính, lần đầu tiên Đoàn Tuấn đã phản ánh tương đối
Tôi và anh sĩ quan chia tay nhau sau cuộc gặp gỡ và nói chuyện rất vui.Tôi khâm phục những người lính lái xe bởi tình yêu nước,ý chí kiên cường của họ và tôi hiểu rằng thế hệ chúng tôi luôn phải ghi nhớ công ơn của họ,cần phải phấn đấu trở thành công dân gương
Tôi là một người lính luật sư" Lê Quốc Quân trước đây đã phải gánh chịu sau những hành vi phạm pháp luật của mình. Một kẻ đã từng là "nhà báo" và rồi tự đánh mất mình khi bị thu hồi thẻ nhà báo và từng có quan hệ thân thiết với những đối tượng chân
Những lời rào đón vào tiếp xúc.1. Khi một bạn nhận thấy mối nguy hiểm của sự việc phạm luật phương pháp về chất, chúng ta hạn chế phán đoán của chính bản thân mình bằng phương pháp nói.-. Nếu tôi ko lầm thì.-. Tôi không ghi nhớ rõ trong- Tôi không đủ can đảm cứng
Người lính này đã nói chuyện với vợ về những tổn thất mà Nga hiện đang gánh chịu ở khu vực Kherson, kể chi tiết các cuộc tấn công của Lực lượng vũ trang Ukraine và thương vong sau đó. "Tụi anh đã có 300 người bị thương ở đây. Chúng đã gài bẫy bọn anh.
Và với phẩm chất của một người lính thì chúng ta biết rồi sẽ rất chân thành và rất mộc mạc, văn của Thế Hùng cũng vậy, ông rất chân thành trong suy nghĩ và trong lối viết của mình. Đấy là một trong những điều mà chúng ta thấy rất rõ trong "Kẻ nằm người ngồi".
Hoặc nếu có, họ đã chọn cứu người, cho dù có thể hy sinh, cho dù không còn có thể trở về nhà nữa. Hôm qua, nước mắt đã rơi rất nhiều. Và hôm nay cũng thế. Những giọt nước mắt tiếc thương và cảm phục với những người lính đã hi sinh thân mình vì người khác. Anh
Nga triển khai Mi-8 MTPR-1 gây nhiễu hệ thống phòng không của Ukraine. TPO - Quân đội Nga được cho là đã triển khai trực thăng tác chiến điện tử Mi-8MTPR-1 trong chiến dịch quân sự đặc biệt ở Ukraine. Quyết định trên sẽ giúp lực lượng Nga chống lại hệ thống phòng không
centkenobil1976. Kỷ niệm 65 năm thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, 1957-2022 Vanvn- Nhớ buổi sáng ngày cách đây vừa tròn 1 năm, tôi cùng em Liên-cháu ruột nhà văn Nguyễn Chí Trung, và cháu Mai Anh – trợ lý cho nhà văn Nguyễn Chí Trung những năm cuối đời của ông, đi grab ra Nghĩa trang TPHCM ở Thủ Đức viếng mộ ba người mà tôi và các cháu đều yêu quí. Đó là nhà văn Nguyễn Chí Trung, người anh tinh thần và là người thủ trưởng cũ của tôi ở Trại sáng tác Văn học quân khu Năm, nhà thơ Thu Bồn, vừa là anh vừa là bạn thân thiết của tôi cũng ở Trại đó, và cuối cùng, là ông Bảy Dự tên thật là Nguyễn Võ Danh, một thủ trưởng cũ của tôi ở Ban Binh vận TW Cục. Ông Bảy Dự hồi đó là phó ban thường trực Ban Binh vận TW Cục, và là một “trùm tình bảo” Việt Cộng. Họ là 3 Việt Cộng thứ thiệt, 3 Việt Cộng thứ dữ luôn, và đều là những người đã vào sinh ra tử trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ. Tôi yêu họ, như yêu những người thân thiết của mình, và tôi luôn lấy họ làm tấm gương để noi theo trong suốt cuộc đời mình. Nhà thơ Thanh Thảo Với tôi, ông Nguyễn Chí Trung là một tấm gương sáng chói của lòng yêu nước, yêu nhân dân, dám hy sinh vì Tổ quốc, và tuyệt đối trong sạch suốt cuộc đời mình. Chỉ như thế, ông Trung đã là người anh hùng trong lòng tôi. Với nhà thơ Thu Bồn, thì cứ nhắc đến anh, lại vừa mắc cười vừa muốn khóc. Vì anh là một người lính-nhà thơ toàn tòng, một người dám sống bằng lòng tốt, bằng ý chí quyết sống, bằng tình nhân ái và bằng cả bản năng tuyệt vời của một người đàn ông chính trực biết yêu phụ nữ hết mình. Biết yêu phụ nữ hết mình, chẳng phải là một phẩm chất mà bất cứ người đàn ông nào cũng ngưỡng mộ, bất cứ người phụ nữ nào cũng rất dễ xiêu lòng đó sao? Còn với ông Bảy Dự – một thủ trưởng cấp cao của tôi hồi đánh Mỹ, thì tầm nhìn của ông, cách sống giản dị hơi ẩn mình của ông, những chiến tích ông đã làm trong lặng lẽ và rất ít người biết, đã đưa ông thành một idol mà tôi ngưỡng mộ, dù chưa hề thân thiết với ông. Nhưng ông Bảy Dự rất biết người, và ông quí tôi, điều ấy tôi biết. Ông quí nhưng không nói ra, chỉ thể hiện qua những cách ứng xử vào những lúc tôi gặp khó khăn nhất. Đó là khi bài thơ “Một người lính nói về thế hệ mình” của tôi vào năm 1974 đã bị đánh tả tơi, lên bờ xuống ruộng. May mà lúc ấy tôi đang sống và làm công việc một nhà báo ở Ban Binh vận, chứ nếu tôi ở Ban Văn nghệ TWC, chắc tôi khó sống lắm. Ông Bảy Dự đã mời tôi lên ngôi nhà lợp lá trung quân nhỏ bé của ông ở giữa rừng, và đã trao đổi chân tình với tôi về… thơ tôi. Đó là điều khiến tôi hết sức ngạc nhiên. Tôi biết, ông Bảy Dự là một nhà cách mạng chuyên nghiệp, chính trị chuyên nghiệp, nhưng không chuyên về thơ, và chúng tôi đã nói chuyện với nhau vừa thẳng thắn vừa chân tình. Tôi không nhận bất cứ “khuyết điểm” nào trong bản thảo tập thơ đầu tay “ Dấu chân qua trảng cỏ” của mình, nhưng tôi cảm ơn ông Bảy Dự vì tình cảm chân thành của ông đối với một người lính trẻ, một nhà thơ trẻ còn chưa được mấy ai biết tới như tôi. Khi về Sài Gòn sau ngày có lần tôi gặp một anh lái xe lam là người Bắc di cư bên chợ Cũ, được ngồi uống bia với anh, được anh kể mình có họ hàng với chị Phan Thị Quyên – vợ anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi. Chợt tôi cảm thấy như được gặp tất cả những bà con người Bắc đã di cư vào Nam năm 1954, được lắng nghe những tâm tình của họ, đồng cảm với nỗi nhớ thương của họ về quê hương miền Bắc, nơi họ đã ra đi từ 21 năm trước. Có dân tộc nào như dân tộc chúng ta, đã bao lần chia ly rồi đoàn tụ, đã trải qua bao “cuộc bể dâu” mà lòng khôn nguôi nhớ về quê cha đất tổ. Một dân tộc như thế không thể không Thống Nhất, không thể không được sống trong Hòa Bình. Có thể ở một nơi nào trên trái đất, có dân tộc phải chia ly hơn 60 năm và hơn thế, nhưng ở Việt Nam thì không. Chia ly 21 năm với dân tộc chúng ta đã là quá dài. Không một ai mong cảnh chia ly đau lòng ấy. Nếu chúng ta hiểu ngày là ngày hiện thực hóa khát vọng thống nhất của một dân tộc, thì chúng ta sẽ dịu lòng hơn với bao trắc trở ở phía trước. Nhưng con đường dân tộc Việt Nam đã đi, đang đi và sẽ đi vẫn là con đường của thống nhất và hòa hợp dân tộc. Và tôi nhớ, cái lần trong rừng được trò chuyện thân mật với ông Bảy Dự, ông Bảy đã có một phút trầm ngâm khi nói với tôi “ Dù phải chờ đợi tới mấy thế hệ để thấy dân tộc chúng ta thực sự hòa hợp, chúng ta vẫn kiên nhẫn chờ.” Những năm ấy, tôi là phóng viên chiến trường thuộc ban Binh vận TW Cục, và chuyên viết về đề tài hòa giải, hòa hợp dân tộc cho hai Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài phát thanh Giải phóng. Tôi nghe lời tâm tình của ông Bảy Dự, và tôi hiểu con đường đi tới thực sự hòa hợp dân tộc còn xa xôi và vô vàn khó khăn, nhưng chúng ta chọn con đường ấy, và chung thủy đi trên con đường ấy. Những ngày tháng Tư của bất cứ năm nào sau năm 1975 đều khiến tôi có những phút bồi hồi khi nhớ lại. Nhiều lúc có cảm giác mình như một dề lục bình trôi trên sông Vàm Cỏ Đông, một dề lục bình bé nhỏ nhưng luôn biết anh em của mình, những ai thân thiết với mình, và những thanh thản khi mình trôi chảy cùng dòng sông. Chưa kể, lục bình lại vừa trôi vừa nở hoa, như tôi từng làm thơ trên Trường Sơn hay qua Đồng Tháp Mười. Mùa Thống Nhất luôn là mùa xúc cảm nhất đối với tôi, một người đã phải xa cha mẹ để vượt Trường Sơn, và sống 5 năm ở chiến trường Nam Bộ. Biết bao là kỷ niệm với bạn bè, đồng đội. Có một người bạn thân của tôi ở chiến khu miền Đông, sau giải phóng anh và gia đình vượt biên sang định cư tại Australia. Nhưng không bao giờ anh quên bạn bè ở quê nhà, quên những tháng năm chúng tôi đã đồng cam cộng khổ với nhau. Mới đây, bạn tôi gọi điện về cho tôi, và nói “ Những năm anh em mình ở Rừng miền Đông là những năm đẹp nhất trong cuộc đời mình.” Tôi đã khóc khi nghe anh nói vậy. Đúng đó là những năm tuổi thanh xuân đẹp nhất của chúng tôi, “Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn” thơ Chế Lan Viên đi chăng nữa. Chúng tôi đã sống đã dâng hiến và đã chịu đựng cùng với nhân dân với đất nước mình. Mùa Thống Nhất với chúng tôi là khát vọng cao nhất trong những năm tháng chiến tranh. Nhớ những ngày tháng tư năm 2021, tình cờ tôi đọc được bài viết như muối xát của một người trẻ gốc Việt sinh năm 1982 đang sống và làm việc tại Mỹ. Anh kể về cái cảm giác không thể chịu nổi khi bị một người đàn bà da trắng xa lạ đột nhiên chửi thẳng và nhổ thẳng vào mặt mình ngay tại một phi trường ở Mỹ vào tháng Cơ sự chỉ vì anh là người gốc Á, một người gốc Việt sinh ra tại Mỹ và bao năm qua đã chăm chỉ làm việc hết mình vì nước Mỹ, nơi anh nghĩ “giấc mơ Mỹ” của mình đang thành hiện thực. “Nhưng tôi đã sai khi nghĩ vậy.” Cơ sự, cũng chỉ vì anh là một thanh niên gốc Việt, dù đầy tâm huyết và không thiếu tài năng. Tôi đã lặng người rất lâu khi nghĩ tới những người đồng bào của mình, những người không chỉ lớn lên trong chiến tranh, mà còn được sinh ra trong hòa bình, lớn lên trong hòa bình, dù ở một đất nước cách xa Việt Nam tới nửa vòng trái đất. Nguồn gốc dân tộc là điều không một ai có thể phủ nhận. Nhưng người Việt Nam, dù ở bất cứ đâu, làm những công việc lao động lương thiện nhỏ nhoi nào, cũng là những người không dễ cho bất cứ ai có thể bắt nạt mình, kỳ thị mình. Người Việt luôn hiếu hòa, thậm chí luôn biết chịu đựng, luôn “chín bỏ làm mười” trong nhiều mối quan hệ với người ngoài, nhưng chảy sâu trong huyết quản của họ là dòng máu Việt của Trần Hưng Đạo, của Nguyễn Trãi, của Quang Trung Nguyễn Huệ. Họ bất khuất một cách tự nhiên, và hiếu hòa một cách còn tự nhiên hơn. Có những điều do lịch sử để lại mà chúng ta luôn phải biết gìn giữ. Nhưng cũng có những điều mà chúng ta cần phải thay đổi, nhất là những điều người Việt cần thay đổi khi nhìn nhận về nhau. Vào ngày ngay tại dinh Độc Lập, tướng Việt Cộng Trần Văn Trà-một người đồng hương lẫm liệt của tôi-đã nói với tướng Dương Văn Minh khi ông đang là và sắp không còn là Tổng thống Việt Nam Cộng hòa “Người Việt Nam chúng ta không ai thắng ai thua trong cuộc chiến tranh này. Kẻ thua là Mỹ, và dân tộc chúng ta là một dân tộc phải được sống trong hòa bình và hòa hợp dân tộc.” Bây giờ thì những người Mỹ tử tế đã là bạn của Việt Nam chúng ta, dù cuộc làm bạn này có chậm tới đâu và đau đớn tới đâu. Nhưng đã là bạn tốt. Và hy vọng là một tình bạn chân thành. Vậy thì con đường đi tới hòa hợp và hòa giải dân tộc của người Việt phải là con đường tất yếu của cả dân tộc Việt Nam, không thể khác. THANH THẢO Báo Văn Nghệ Xem thêm Họa sĩ – nhà thơ Lê Tiến Vượng, lãng tử hồn quê Hội Nhà văn Việt Nam triển khai công tác văn học 2023 và kết nạp hội viên mới Ngước nhìn “Đất nước” của Trần Vàng Sao Giang ơi! Về thôi em – Tản văn dự thi của Phạm Văn Tấn Nỗi buồn Bảo Ninh – Kỳ 1
"Chiến trường ngày cũ rưng rưng/ Một thời trai trẻ đã từng dọc ngang/ Mùa chinh chiến ấy - hóa vàng/ Quê chung thắp một nén nhang quê người". Đó là những câu thơ mà những người lính Sư đoàn 307 chúng tôi đã đọc tại đền thờ Angkor Wat vào năm ngoái - nhằm tưởng nhớ đồng đội đã hy sinh vì nghĩa tập sách "Mùa chinh chiến ấy" NXB Trẻ ấn hành của nhà biên kịch, nhà văn Đoàn Tuấn đã "hóa vàng" tại chiến trường xưa, năm nay, lại vừa tái bản. Điều này, thú thật khiến tôi ngạc nhiên, vì nghĩ rằng sách viết về năm tháng ấy, đã hơn 30 năm rồi còn gì, liệu chừng còn mấy ai quan tâm? Không ngờ, vẫn còn đó người tìm đọc và cũng có thể họ tò mò tìm về ngày tháng đất nước vừa hòa bình vừa chiến tranh đã có một thế hệ nhập ngũ đổ máu ở chiến trường Tây Nam của Tổ đọc bản thảo này, từ những dòng đầu tiên cho đến cả ngót 500 trang in, tôi bàng hoàng nhận ra rằng đây là một trong những tập bút ký xuất sắc nhất và có vị trí quan trọng trong các tác phẩm viết về quân tình nguyện Việt Nam. Để có được những trang viết ngồn ngộn chất liệu của máu, nước mắt lẫn niềm vui, nỗi buồn trải dài trong quá khứ, không chỉ lật lại nhật ký thuở đôi mươi, Đoàn Tuấn còn lặn lội từ Nam chí Bắc gặp gỡ đồng đội cũ. Sau khi đã thu thập tương đối đầy đủ tài liệu, anh bắt đầu viết. Viết chừng nửa tập sách, đọc lại cảm thấy nhẹ hều, so với những gì đã trải qua, anh nghiến răng xóa sạch. Và lại viết. Anh tâm tình "Khó nhất vẫn là tìm cách thể hiện, phải thật khách quan, dù rằng anh em mình là người trong cuộc".Tác giả Đoàn Tuấn và cuốn sách "Mùa chinh chiến ấy" vừa được tái bản. Ảnh do nhà văn cung cấpTôi rất hiểu tính cẩn trọng của bạn. Thời còn ở chiến trường, trong túi áo của anh bao giờ cũng có quyển sổ tay và cây bút BIC. Hễ gặp một điều gì cần thiết, anh lại hí hoáy ghi chép, sợ quên. Nhờ vậy, khi bắt tay vào viết những tập sách về năm tháng của thế hệ mình, anh đã có được lợi thế về chất liệu so với người cùng khi rời quân ngũ từ thập niên 1980, anh đã đau đáu suy tư "Trong lòng tôi luôn suy nghĩ một điều là những người lính đồng đội tôi hình như đã linh cảm thấy mình sẽ chết. Nhưng họ hoàn toàn không ý thức được điều này. Định mệnh, số phận và cái chết cuốn họ đi. Chỉ khi họ chết rồi, xâu chuỗi lại những lời nói và hành động của họ, tôi mới nhận ra được những điều họ linh cảm". Vì vậy, Tuấn đã viết lại điều đó. Cuốn sách chỉ dày chừng 150 trang in nhưng phải có độ lùi gần 20 năm, Đoàn Tuấn mới viết nay, với "Mùa chinh chiến ấy", như sự "phân công" vô hình nào đó, Đoàn Tuấn lại là người chịu trách nhiệm phải ghi lại năm tháng đồng đội đã trải qua. Hoàn toàn không phải "đồng bóng" duy tâm gì cả, phải sau khi viết xong, anh thành tâm thắp một nén nhang lên bàn thờ; lúc ấy, anh mới thấy lòng mình thật sự nhẹ nhàng, thanh thản. Khi phát hành, ngay lập tức, quyển sách đã tạo nên cơn sóng dữ dội trong lòng cựu chiến binh Sư đoàn 307 lẫn bạn đọc hôm ai, không một điều gì có thể lãng quên. Làm sao có thể quên, Tuấn nhớ lại lúc anh Lâm giẫm mìn tại vùng Đông Bắc Campuchia "Đêm xuống, ngoài trời An Lung-viêng tối đen như mực. Mưa rả rích. Càng lúc anh càng kêu to. Đến lúc kiệt sức, Lâm không thể kêu được nữa. Khoảng 4 giờ sáng, anh trút hơi thở cuối cùng. Tôi làm công việc kiểm nghiệm quân tư trang tử sĩ. Tấm ảnh người vợ, anh vẫn để trong ví. Tôi lấy ra. Ngắm nhìn lại gương mặt người thiếu phụ xinh đẹp. Tôi lật đằng sau, thấy dòng chữ con gái "Những lúc buồn anh hãy nhớ đến em. Ký tên Liên". Nét chữ thật phóng khoáng. Tôi vẫn bị ám ảnh gương mặt dịu hiền của người con gái ấy. Tóc thề xõa ngang vai. Đêm nay, ở quê nhà, chị có mơ thấy anh Lâm về không?". Những chi tiết dung dị như vốn có trong đời thường, "Mùa chinh chiến ấy", đã ghi nhận qua sự chắt lọc của một cây bút đã từng sống tại chiến trường hơn 5 năm, liên tục tác chiến và công tác dân vận lẫn truyền tin, Đoàn Tuấn có nhiều cơ hội gặp gỡ, tiếp xúc với người dân, nhờ vậy, "Mùa chinh chiến ấy" còn là những trang bút ký về sinh hoạt của người dân bản xứ với nhiều chi tiết chân thật và độc đáo. Có thể nói, từ góc nhìn của người lính, lần đầu tiên Đoàn Tuấn đã phản ánh tương đối đầy đủ nhất về năm tháng nghĩa vụ quốc tế với sự tự nhủ đã khắc sâu tâm khảm "Giúp bạn là tự mình giúp mình". Chắc chắn "Mùa chinh chiến ấy" có vị trí đặc biệt trong số các tác phẩm viết về chiến trường Tây Nam mà nay chỉ mới đếm trên đầu ngón tay với Văn Lê, Sương Nguyệt Minh, Phạm Sỹ Sáu, Nguyễn Quốc Trung, Nguyễn Thành Nhân, Bùi Thanh Minh, Huỳnh Kim, Lê Minh Quốc…Và xin kể thêm, lúc "hóa vàng" "Mùa chinh chiến ấy" tại chiến trường xưa, chúng tôi đã nói với nhau về ngày tháng ở quân trường - ngày chỉ mới đôi mươi đã làm quen với vũ khí, điều lệnh quân ngũ để bổ sung vào mặt trận. Vậy, thế hệ ấy có gì khác thế hệ ngày nay? Âu cũng là một gợi ý cần thiết để Đoàn Tuấn lại viết. Đã viết xong. Bản thảo "Một trăm ngày trước tuổi hai mươi" đang nằm trên bàn biên tập của một nhà xuất văn Huỳnh Trọng Khang - trẻ hơn so với chúng tôi khi đọc trước bản thảo đã nhận xét "Mỏng hơn nhiều so với "Mùa chinh chiến ấy" nhưng không vì thế mà "Một trăm ngày trước tuổi hai mươi" thiếu đi sức nặng, thiếu vắng sự ngồn ngộn của hiện thực. Tập sách này được viết ra, trình bày như thể nó là những ghi chép, rất gần với nhật ký, quyển nhật ký đếm ngược tới "ngày D" - trước ngày hai mươi tuổi. Cái tuổi hai mươi đầy hoa mộng mở ra, hành trình một trăm ngày sát cánh cùng đồng đội trong những giờ phút bắt đầu một cuộc chiến. Nhân vật bước đi, tuổi xuân mở lối, nhưng đồng thời chiến tranh tàn khốc".Nhắc chi tiết này, tôi muốn xác tín rằng không ai khác, chính Đoàn Tuấn - nhà biên kịch, nhà văn, cựu binh Sư đoàn 307, đã đảm nhận nhiều nhất về vai trò kể chuyện đời lính của thế hệ mình cho mai sau. Việc làm này, há chẳng phải vai trò của nhà văn là ghi chép lại năm tháng đã sống và đang sống đó sao?
FB Le van Quy 25/4/2023Úc vừa phát hành tem kỷ niệm ngày Anzac Day 25-04 ANZAC được viết tắt từ chữ Australia and New Zealand Army Corps.Những năm gần đây bắt đầu xuất hiện những nhà nghiên cứu trẻ nước ngoài gốc Việt thành danh với các công trình liên quan đến gốc rễ Việt Nam của họTại Mỹ, nơi tập trung cộng đồng Việt kiều, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thanh Việt nhận giải văn học Pulitzer năm 2015 cho tiểu thuyết The Sympathizer. Một người khác cũng ở Mỹ, Tiến sĩ Nguyễn Liên Hằng, được giải Stuart L. Bernath của Hội Sử gia Quan hệ Ngoại giao Hoa Kỳ năm 2013 nhờ cuốn Hanoi's War An International History of the War for Peace in với số người gốc Việt ước tính hơn người, cũng chứng kiến sự xuất hiện của một số người lớn lên ở đây nhưng muốn viết về Việt mảng được họ quan tâm là tiếng nói của thế hệ phi cộng sản trong chiến tranh ở miền Nam Việt nghiệm từ cha mẹCuốn sách gần đây, South Vietnamese Soldiers Memories of the Vietnam War and After in năm 2016, là một nỗ lực như vậy của Tiến sĩ Nathalie Huynh Chau Nguyen, dạy tại Đại học Monash, sách bắt đầu từ dự án nghiên cứu của tác giả về các cựu binh Việt Nam Cộng Hòa VNCH, chủ yếu định cư ở Úc, gồm tổng cộng 54 cuộc phỏng cựu binh được phỏng vấn, người già nhất sinh năm 1917 và trẻ nhất 1955, kể lại cuộc đời tác giả cho hay, quan niệm của chính bà về cuộc chiến chịu ảnh hưởng từ trải nghiệm của cha thân cha của tác giả, Nguyễn Triệu Đan, là Đại sứ cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa ở Nhật Bản 1974-75. Người cha rời miền Bắc Việt Nam năm 1950, mang theo bộ gia phả chữ Hán do người ông soạn, tiếp tục truyền thống học tập của gia bằng tiến sĩ luật ở Pháp, ông Đan trở thành nhà ngoại giao của Việt Nam Cộng Hòa, tham dự phái đoàn VNCH tại Hội Nghị Paris dẵn tới Hiệp định ngày 30/4/1975, gia đình tị nạn ở Melbourne, Nathalie Nguyễn từng gợi ý để cha viết lại hồi ký, nhưng ông không làm vì cảm thấy chủ đề còn quá đau đớn khi nhắc bà Nathalie Nguyễn, sau khi nhận bằng tiến sĩ ở Đại học Oxford, vẫn băn khoăn khi giới viết sử hầu như bỏ qua trải nghiệm của người lính và thường dân miền Nam trong cuộc chiến kết thúc năm quân nhânQua các câu chuyện cá nhân, cuốn South Vietnamese Soldiers như một lược sử về những người lính Việt Nam, bắt đầu từ thời tuổi trẻ đến khi họ tìm đường sang giả nhắc lại rằng Nam Việt Nam mất hơn người lính trong cuộc chiến, với số người bị thương khoảng hơn chương sách dành để nói về Đoàn Nữ Quân Nhân Quân lực VNCH, một đối tượng ít khi được nhắc lúc kết cuộc năm 1975, có khoảng phụ nữ phục vụ trong Đoàn Nữ Quân Nhân. Miền Nam sụp đổ là "vết sẹo" lớn nhất trong cuộc đời nhiều phụ nữ người phụ nữ kể về giai đoạn hậu chiến là "thời gian tuyệt vọng". Bà chạy sang Campuchia mang theo con trai, ở đó suốt năm năm để có thể sang trại tị nạn ở Thái Lan rồi sang Úc năm này, cũng người phụ nữ này quay về Việt Nam mỗi năm để giúp đỡ những thương phế binh trai bà hỏi sao mẹ cứ về Việt Nam, và "hãy quên đi những kỷ niệm đau thương".Nhưng bà nói "Nỗi đau mới làm mình biết nhớ."Úc công nhận cựu binh VNCHQua sách, người đọc biết thêm rằng từ 1980, Úc có chế độ công nhận cựu binh của các đồng minh qua việc cấp cho họ lương hưu. Chính sách ra đời từ nhu cầu đáp ứng cho các cựu binh thời Thế chiến Hai, nhưng cũng áp dụng cho các xung đột sau này như Chiến tranh Việt nhiều cựu binh VNCH, việc nộp đơn xin chính phủ Úc công nhận là cựu binh đồng minh không chỉ để có tiền hưu, mà quan trọng hơn, để tự hào rằng họ được công nhận trong danh Úc công nhận cựu binh VNCH cũng giúp những người này có chỗ đứng trong lịch sử di dân và chiến tranh của Úc, giúp họ hòa nhập với cộng đồng cựu binh cựu binh chỉ ra rằng ngay tại Mỹ, không có mức độ công nhận cựu binh VNCH nhiều như tại Úc công nhận cựu binh VNCH cũng giúp những người này có chỗ đứng trong lịch sử di dân và chiến tranh của Úc, giúp họ hòa nhập với cộng đồng cựu binh cựu binh chỉ ra rằng ngay tại Mỹ, không có mức độ công nhận cựu binh VNCH nhiều như tại sách của Úc đã cho những người lính VNCH có được diễn đàn, tạo cho họ cơ hội đóng góp và tham gia những dịp Úc kỷ niệm cuộc chiến Việt nghiên cứu tiếng Anh nổi bật về Việt Nam Cộng Hòa gần đây chủ yếu tập trung vào chính thể Tổng thống Ngô Đình Diệm 1955-63. Một phần lý do là sự mở cửa ngày càng cởi mở của các kho tư liệu về giai đoạn này ở Việt sách của bà Nathalie Huynh Chau Nguyen là một nỗ lực khác, và bà nói việc người ta cố "xóa sổ VNCH" khỏi cả lịch sử Việt Nam và ngành viết sử về chiến tranh đã là động lực cho nghiên cứu của bà. theo bbc
Bài Thơ Ngắn Về Người Lính! Mang trên mình bộ cảnh phục thiêng liêng cũng là mang trên vai là trách nhiệm cao cả. Mỗi khi mùa đông đến, gió lạnh ùa về thì hình ảnh những người lính ấy lại khuất lấp dần trong suy nghĩ của chúng ta. Chúng ta cứ mải chạy vội vàng để kịp cuộn mình trong cái ấm và rồi hắt qua khe cửa mỗi đêm đông lạnh là những dáng người thầm lặng đang giữ trọn giấc ngủ cho mọi nhà. Khi con người ta ở trong không gian vắng lặng của bóng đêm, chắc rằng ta luôn ước mong tìm được một âm thanh dù là rất nhỏ hay một dáng người lướt qua ta cũng cảm giác yên tâm. Vậy mà, những người lính ấy mỗi khi đêm về lại lẻ bóng chuẩn bị lên đường vì sự bình yên của cuộc sống. Nhiều khi chúng ta nghĩ những con người ấy không hề đơn độc bởi công việc tất bật, có nhiều đồng nghiệp ở bên nhưng đã khi nào chúng ta thử một lần nhìn lại tận sâu trong trái tim họ ngổn ngang bao điều, ánh mắt xa xăm vì không ngủ đủ giấc hay đang suy nghĩ điều gì. Hình ảnh người lính trở thành nguồn cảm hứng, là chất xúc tác của nhiều nhà thơ nhà văn, từ đó có nhiều tác phẩm thơ ca về người lính. Bài viết này, blog xin gửi đến các bạn bài thơ về người lính và những bản tình ca bất hủ, xem ngay dưới đây nhé. Hai Năm Ròng Em Thương – Tác Giả Dưa Sớm mai thôi anh lên đường nhập ngũ Chim hót vang, hoa lặng lẽ cúi chào Nặng vai anh trăm ngàn lời nhắn nhủ Tiến bước nào, tiến về phía ánh sao. Đêm thao thức em nhớ anh không ngủ Rèm không buông, đèn trắng tỏ không mờ Thương thương anh cùng lá thư chưa cũ Vội nghiêng mình đưa nét viết vần thơ. Màu áo xanh ấy là màu gian khó Nơi thao trường ấy là mướt mồ hôi Khi kiệt sức xin anh đừng rời bỏ Tuyệt vọng chi em ở cạnh anh rồi. Đừng lo nhé người lính em yêu dấu Mạnh mẽ lên, chiến đấu tới tận cùng Vì Tổ quốc anh phục vụ tận trung Vì yêu anh em sau cùng chờ đợi. Đêm tan biến, ngày nắng mai đang hé Khoác ba lô anh rục rịch lên đường Anh bộ đội xin đừng quên cô bé Hai năm ròng đi mạnh khỏe, em thương. Tâm Tư Người Lính Biển – Tác Giả Thìn Nguyễn Vầng trăng đã xẻ làm đôi Chồng chềnh biển xa một nửa Bao nhiêu nỗi niềm chất chứa Đi xa đến mấy phương trời Mái chèo bằng cả câu thơ Chở nửa vầng trăng đơn lẻ Trong đêm trong mây lặng lẽ Trong em trong anh trong mơ Hai nửa vầng trăng ghép lại Ta chung một vầng trăng tròn Của em của anh mãi mãi Diệu huyền tỏa sáng đầu non Người Lính Trường Sa – Tác Giả Thái Bá Y Ra thăm quần đảo Trường Sa Tình anh chiến sĩ thiết tha mặn nồng Các anh chung sức chung lòng Giữ gìn tất đất non sông quê nhà Thương anh lính đảo Trường Sa Tuổi xuân vững bước sông pha biên thùy Vượt bao gian khó hiểm nguy Đảo xa biển lớn chẳng chi ngại ngần Biển xanh giặc chiếm bao lần Trường Sa tổ quốc đang cẩn các anh Quyết tâm giữ vững đảo xanh Tình yêu đất nước các anh đong đầy Súng cầm giữ chắc trong tay Tuần tra canh gác đêm ngày biển khơi Các anh có mặt khắp nơi Chiến hào trận địa biển trời biên cương Tình em gái nhỏ hậu phương Gửi anh lính đảo tiền phương đang chờ Trường Sa căng thẳng từng giờ Các anh trực chiến biển bờ quê hương Người lính chẳng ngại gió sương Tàu đêm lướt sóng lên đường tuần tra Trường Sa tổ quốc chúng ta Có anh canh giữ quê nhà bình yên Tình Yêu Người Lính – Tác Giả Bế Thanh Sơn Mộc mạc thôi tình yêu người lính Không cao sang quyền quý xa hoa Không nhung gấm lầu cao gác tía Không lời nhung sáo rỗng đa đoan Giản dị thôi nhưng mà tha thiết Có quê hương có tiếng chim ca Có nàng thơ có cả hồn trăng Trời đầy sao với cả hương hoa Tình yêu đó cánh đồng lúa chín Ánh mắt thơ những cánh diều bay Lũy tre xanh, dòng sông, bến nước Giọt sương mai ánh nắng chan hoà Đơn sơ thôi nhưng mà bao la Tình mênh mông lời ru của mẹ Tình đậm sâu ơn nghĩa của cha Lòng thủy chung son sắc chân tình Tình yêu lính là tình nhân thế Hiến dâng lên tặng cả cuộc đời Với tấm lòng trinh nguyên trong sáng Đắp xây đời dệt mộng tương lại Yêu Người Lính Đảo – Tác Giả Hải Đỗ Tiến Mây hồng uốn lượn giữa trời sao Sóng biển ngàn năm mãi dạt dào Giữ trọn niềm yêu người lính đảo Đong đầy nỗi nhớ mảnh tình trao Còn mơ những buổi hai cùng dạo Chỉ lỡm từng hôm bạn chiến hào Mộng vẫn bên nàng đêm thổi sáo Xây thành đắp luỹ dựng tầng cao Tình Yêu Người Lính – Tác Giả Thoại Yến Em yêu lính màu áo xanh cây lá Là màu xanh biển cả sóng dạt dào Nhịp bước anh em rất đỗi tự hào Vì Tổ Quốc biết bao chàng vượt khó Nơi biển đảo luôn canh ngọn cờ đỏ Sức vững bền rạng rở chí hùng anh Nhưng thơ tình vẫn lai láng màu xanh Thơ lãng mạn mong manh như cành liễu Anh lính trẻ tơ vương tình và hiếu Nhưng kiên cường không thiếu trước quân thù Thoáng mơ màng bóng liễu ánh phù du Yêu Đất Nước cho dù buông mộng thắm Người lính biển giấu niềm yêu sâu thẫm Giữa trùng khơi mắt đẫm vì nhớ em Ôm bóng hình người trong mộng hằng đêm Rồi len lén viết tên nàng trên cát Và cứ thế chờ sóng xô trôi dạt Ôi nghe sao tan nát cả cõi lòng Tình yêu anh trong sáng rất mặn nồng Ôi em mãi nhớ mong chàng lính biển Khi Người Lính Trở Về – Tác Giả Nguyễn Ký Tuổi xuân cống hiến cho đời Giữ gìn biên giới ở nơi núi rừng Về nhà nghỉ phép vô chừng Ba lô vai nặng vui mừng chẳng lâu Hậu phương con vợ buồn rầu Lại thêm lần nữa bắt đầu chia tay Lệ mi đỏ ướt chảy hoài Ngậm ngùi đưa tiễn lưng quay cúi đầu Trở trăn giấc ngủ đêm thâu Tình người vợ trẻ mái đầu còn xanh Dịu hiền đạo đức hiền lành Chăm lo cuộc sống với danh dâu hiền Yêu chồng gác lại tình riêng Một mình gánh vác năng siêng ruộng đồng Không màng danh lợi chờ mong Âm thầm lặng lẽ trong lòng không than Nhớ chồng trong giấc mơ màng Nhìn con say ngủ xóm làng vắng êm Làm sao tránh khỏi nhói tim Tuổi đầy hưng phấn gắn liền yêu thương Bao năm mài miệt chiến trường Tình quê gởi lại hậu phương giữ gìn Thương em thân gái một mình Nuôi con giúp Mẹ vắng hình bóng anh Nhưng vì nhiệm vụ phải đành Nhờ em giúp đỡ tảo tần mưu sinh Luôn mang nặng nghĩa thâm tình Làm xong nhiệm vụ quê mình trả cho Thời gian như gió đưa đò Tuổi hưu đã đến anh lo bù trừ Nhìn nhau bốn mắt suy tư Niềm vui sung sướng đến từ máu tim Nhỏ nhẹ kể chuyện hàng đêm Như thời trai trẻ êm đềm môi run Thật là hạnh phúc vô cùng Không còn xa cách bão bùng nữa đâu Tương lai ngày mới bắt đầu Móng nền có sẵn không lâu sẽ giàu Vợ chồng khắn khít bên nhau Lượt chảy tóc rối dạt dào mến yêu Ngồi nhìn con cháu mỗi chiều Cành cao chim hót tiếng kêu ghẹo mình Tuổi già sắc nét còn xinh Nếp nhà vẫn giữ nghĩa tình thủy chung Lính Mà Em – Tác Giả Hồng Hà Em trách anh sao gửi thư chậm thế, Em đợi hoài sẽ giận cho xem. Biên thư cho em bao giờ anh muốn thế, Hành quân đường dài đấy chứ. Lính mà em! Anh gửi cho em mấy cành hoa dại, Để làm quà, không về được em ơi, Không dạo mát nửa đêm cùng em được, Thôi đừng buồn em nhé. Lính mà em! Hẹn nghỉ phép, anh cùng em dạo phố, Tay chiến binh đan đầu ngón tay mềm, Em xót xa đời anh nhiều gian khổ, Anh chỉ cười và nói Lính mà em! Qua xóm nhỏ anh ghi dòng lưu niệm, Trời mưa hai đứa đứng bên thềm, Anh che cho em khỏi ướt tà áo tím, Anh quen rồi, không lạnh. Lính mà em! Anh kể chuyện hành quân và gối súng, Trăng đêm đầu không đủ viết thư đâu, Biên thư cho em nét nhòe như vụng. Hiểu giùm anh, em nhé! Lính mà em. Ghét anh ghê, chỉ có tài biện luận, Làm người ta thêm nhớ thương nhiều. Em xa lánh những ngày vui trên phố, Để nhớ người hay nói “Lính mà em”. Rừng Ơi – Tác Giả Nguyễn Thị Hồng Ngát Em đã hiểu rằng từ khi biết yêu anh Cái cảm xúc ban đầu thật đẹp Anh bộ đội có cái nhìn chân thật Mọi gian truân không xoá nổi nét cưới Khu rừng gai đêm ấy mưa rơi Lá cây ướt mà đất rừng không ướt Anh hái cho em trái me chua ngọt Và nói về những chuyện mai sau… Dòng suối trong rừng nước xanh bóng rêu Bom rơi xuống làm chết bao nhiêu cá Anh đã quen còn em thấy lạ Tiếng ầm ì giữa tiếng xe- tiếng bom Ơi nhưng khu rừng trên dãy Trường Sơn Nơi tôi đến giữa những năm tuổi trẻ Giữa những năm đạn bom khói lửa Và đâu hay tôi có một mối tình… Một mối tình trong năm tháng chiến tranh Giữa khốc liệt vẫn mang nhiều thơ mộng Anh bộ đội áo sạm đen khói súng Và cô văn công đứng hát trước bom thù Những lúc yên bình đi dạo dưới rừng thu Chợt quên tiếng bom chỉ còn nghe rừng hát Rồi bỗng đâu bắt gặp trong ánh mắt Trong muôn người bắt gặp một bàn tay Suốt những năm dài cho đến hôm nay Đã đi hết một đoạn đời tuổi trẻ Vẫn giữ mãi cái nhìn chân thật quá Và dư âm về những cách rừng già Lúc vui buồn hay nhớ đến Rừng ơi! Ơn Người – Tác Giả Mai Anh Anh đi bảo vệ non sông Nước non hùng mạnh nhớ mong ơn người Anh đi bảo vệ đất trời Tổ quốc luôn nhớ ngàn đời ghi công Anh đi kẻ nhớ người mong Nước non hùng vỹ non sông nhớ người Anh đi xa mãi ngàn khơi Phơi xương thân xác mồ nơi chốn nào Mẹ già mong ngóng nơi nao Anh đi bỏ lại chốn nào xác thân Ngàn đời con cháu vấn vương Anh Hùng liệt sỹ chiến trường đạn bom Nhớ Ơn – Tác Giả Pùng Văn Vĩnh Khói hương nghi ngút đất trời Cháu con cả nước nói lời tri ân Tới cha tới chú quân nhân Thương binh liệt sĩ vì dân quên mình. Ra đi để lại ngĩa tình Cho cha cho mẹ tấm hình nhớ mong Thanh niên mười tám sáng trong Tay cầm chắc súng tấm lòng bao dung. Miếng cơm không có mà dùng Vậy mà chiến đấu tới cùng không thôi Người còn mặn đắng trên môi Nhớ người đã khuất không thôi ngày nào Nhớ khi trẻ nhỏ thét gào Mỗi khi bom đạn tuôn trào như mưa Nhớ khi ở bến đò xưa Có cô gái trẻ tiến đưa người tình Hãy dành một phút lặng thinh Nhớ ơn liệt sĩ thương binh nước nhà Vì con vì cháu chúng ta Nào là thương tật nào là hi sinh Thư Gởi Em – Tác Giả Nguyễn Thành Hòa Đừng trách anh biên thư chậm thế Đợi thư hoài chớ giận nhé em Thư mới viết lòng anh đau muốn thế Hành quân dài trở lính mà em Anh gởi cho em mấy cành hoa dại Để làm quà kỉ niệm nghe em Thơ viết lem nhem em ơi độc kỹ Em độc rồi hãy suy nghĩ nhé em Ngàn muôn nỡi nhớ em cũng đợi chờ Mãng lính trở về anh cùng em dạo phố Tay trong tay hạnh phúc bên nhau Tâm Sự Người Lính Biển – Tác Giả Dương Công Lương Em dịu dàng cho biển anh gợn sóng Để sao trời gửi bóng dưới lòng sâu Hải đảo ơi, thao thức suốt canh thâu Cho sóng khát, sóng bạc đầu thương nhớ Anh canh giữ yên lành những giấc mơ Em nơi ấy mong chờ đừng vụt mất Biển cũng nhớ cũng khát khao tình đất Sóng hôn bờ ngây ngất chẳng rời xa Ngọn Hải đăng sáng giữa biển bao la Lung linh lắm hát tình ca gửi gió Cánh thư yêu ấm tình nơi đảo nhỏ Cách muôn trùng nhưng cháy đỏ niềm tin Rồi một ngày… một ngày biển lặng im Đàn hải âu trở về tìm bờ cát Khúc hát ru cho biển thêm dào dạt Cánh tay mềm thơm ngát cả trời xuân Càng yêu biển càng vững bước hành quân Đôi mắt sáng đường tuần tra đảo vắng Trái tim ơi đừng bao giờ yên lặng Biển bây giờ ngập tràn nắng tỏa hương Gửi về mẹ những nỗi nhớ niềm thương Gửi em nhé những đêm trường đảo nhỏ Có vị mặn… có trăng sao, và gió… Yêu biển rồi… nơi đó cũng quê hương… Yêu Quá Đồng Chí Ơi – Tác Giả Đặng Văn Mai Những bông hoa nở trong ngày khói lửa Vẫn ngát hương và chan chứa niềm tin Không ngại chi súng đạn với bom mìn Mang hi vọng trong ánh nhìn sáng rực Nơi tuyến đầu em xông pha mọi lúc Giành thương binh từ địa ngục trở về Tuổi xuân em là băng,gạc,thuốc tê Sống cùng với những cận kề cái chết Mấy mươi năm bước quân hành chẳng mệt Chiến tranh giờ cũng đã hết từ lâu Lớp măng non lại nối tiếp đi đầu Giữ truyền thống và nhớ câu Bác dạy Dòng máu đỏ trong tim còn mãi cháy Vì nhân dân em chẳng ngại xông pha Vẫn vẹn toàn những việc nước việc nhà “Mẹ hiền” mãi không dời xa lời Bác Tình Yêu Người Lính – Tác Giả Trần Thịnh Nâng chén biệt ly nghẹn đắng lòng Chiều đông thêm lạnh giá chiều đông Mắt trao lời nói lòng bịn rịn Tay nắm chặt tay cạn chén nồng Rồi đây xóm nhỏ sẽ vắng anh Mỗi buổi trăng thu ngã trước mành Mình em lẽ bóng sầu đơn lạnh Nhạt màu hoa thắm của ngày xanh Nẻo vắng anh đi trĩu nặng lòng Thương em xóm nhỏ vẫn chờ mong Quê nghèo khuya sớm luôn tần tảo Xanh lúa thơm hương đượm má hồng Em hỡi thao trường những mùa đông Súng thép nặng tay thiếu dáng hồng Hoa núi biên cương hồn lính trẻ Vẫn nặng tình em, Em biết không Bài Thơ Người Lính – Tác Giả Đào Văn Cứu Đất nước mình chưa yên ổn đâu em Quân xâm lược vẫn thèm từng tấc đất Ta cảnh giác nguy cơ là rất thật Giữ biên cương còn mất đặt trên đầu Đất trời này biển xanh núi rừng sâu Người chiến sĩ dãi dầu mưa gió hứng Phải lặng lẽ âm thầm mà chịu đựng Mắt dõi xa chặn đứng giặc mưu đồ Giữ yên bình biển vàng sóng nhấp nhô Ôi người lính Bác Hồ luôn là vậy Kiên trí dũng tự hào yêu biết mấy Mấy chục năm tin cậy giữ nước mình Biết bao người chiến sĩ đã hy sinh Vì Tổ Quốc hoà bình dâng tuổi trẻ Người trước ngã người sau vùng mạnh mẽ Để Việt Nam nước bé lại oai hùng Lính tự hào luôn son sắt thuỷ chung Bởi tôi luyện tận cùng nơi tuyến lửa Lính tuyên thệ vững vàng như lời hứa Vì Đảng dân chọn lựa sống trung thành Nay chúc mừng những người mặc áo xanh Ngày quân đội tôi dành lời kính chúc Trân trọng quý mọi người đều thán phục Cầu các anh hạnh phúc khoẻ yêu đời Tình Lính Ngày Đông – Tác Giả Đào Văn Cứu Có người lính trên đường tuần tra vội Bỗng giật mình bối rối cảnh trời đông Nhớ bếp nhỏ lửa hồng lên mỗi tối Người vợ xinh rất tội đứa con bồng Nhớ tổ ấm khi trời đông giá lạnh Gió bấc về đỏng đảnh thốc nhà đơn Con thơ dại khóc hờn sao khỏi tránh Xa vợ con chăn mảnh ngủ chập chờn Chiều nay lạnh nhớ hơn bao giờ hết Mây bồng bềnh nắng dệt phủ sơn khê Người lính trẻ bước mải mê không mệt Bởi cấp trên bảo tết sẽ cho về Thương người lính tái tê chiều đông muộn Nơi biên cương lòng cuộn nhớ quê nhà Thơ mấy chữ bài ca này tôi muốn Gửi tặng người gió cuốn tới miền xa Tình Yêu Người Lính – Tác Giả Lê Văn Bình Ngày nhập ngũ em lệ sầu đưa tiễn Trước đông người nên không tiện nói ra Chỉ ôm anh dòng nước mắt nhạt nhòa Mãi yêu em đừng rời xa anh nhé Ôm chặt em môi nghẹn ngào nhỏ nhẹ Mình lớn rồi chẳng còn bé đâu em Hứa không khóc nhưng mắt vẫn ướt nhèm Hãy gắng chờ anh thêm hai năm nữa Khẽ mỉm cười và gật đầu em hứa Đợi anh về rồi hai đứa nên duyên Tình của em mãi mãi vẫn vẹn nguyên Giống bến xưa thề đợi thuyền trở lại Thu qua đi gió đông lạnh tê tái Thổi từng đợt hoang hoải khắp sườn đê Sau hai năm anh xuất ngũ trở về Mọi cảnh vật vẫn không hề thay đổi Con đường mòn sương mờ giang ngập lối Bến sông xưa nơi sớm tối hẹn hò Anh về nhà lòng không chút đắn đo Thấy mọi người buồn xo không vui vẻ Nhìn mắt họ như có điều tránh né Tìm hiểu ra mới vỡ lẽ thế này Người yêu tôi tình cảm đã đổi thay Đã đính ước và định ngày cưới hỏi Vậy mà em đã hứa gắng chờ đợi Để giờ đây theo tình mới là sao Cầm thiệp hồng mà nước mắt tuôn trào Tự vấn mình vì lẽ nào vậy chứ Vẫn cố gắng đọc rõ ràng từng chữ Chuyện tình mình là phép thử phải không? Phút cuối cùng chính em đã thay lòng Bỏ tình anh để cầu mong hạnh phúc Tình của mình cuối cùng đã kết thúc Hãy cho anh xin được chúc một câu Tình yêu anh đã ấp ủ từ lâu Hạnh phúc nhé mối tình đầu êm ái Vẫn yêu em với con tim khờ dại Nhưng đành thôi đến lúc phải chia lìa Em cứ vui hạnh phúc bên ai kia Kệ anh với vầng trăng chia 2 mảnh Em Yêu Anh Lính – Tác Giả Thoại Yến Em nhớ lại ngày tiễn anh ra trận Mắt lệ rưng cứ ngân ngấn sầu tuôn Vuốt tóc em anh khẽ bảo đừng buồn Chờ anh nhé mình luôn là mãi mãi Trao lời hẹn anh ôm ghì em lại Như khắc ghi hiện tại ở nơi lòng Tay trong tay anh đặt nụ hôn nồng Ngày nắng đẹp ước mong thành sự thật Vẹn tình nước vinh quang cao chất ngất Chốn sa trường tỏ mặt đấng hùng anh Dù bảo giông vẫn giữ mãi màu xanh Vì Tổ Quốc mạnh lành anh tiến bước Em đã biết mình may mắn có được Tình yêu anh với trước cả mọi người Thấp thỏm trông nhưng vẫn nở nụ cười Để anh vững rạng tươi làm nhiệm vụ Dù chưa trọn phu thê em tự nhủ Có ra sao vẫn giữ trọn lời thề Nguyện theo anh dù vạn nẽo sơn khê Em yêu lính màu áo xanh cây lá Yêu Anh Người Lính – Tác Giả Canh Huong Cả đời trong quân ngũ Chinh chiến khắp mọi miền Gian khổ cứ triền miên Giờ đã xong nhiệm vụ Anh trở về quê cũ Nơi quê nhà dấu yêu Vui bạn hữu sớm chiều Thơ phú bàn cả buổi Nghĩ rằng thêm một tuổi Nhưng không thể là già Chẳng quản ngại đường xa Khó khăn không nản chí Tháng ngày luôn suy nghĩ Chăm sóc cây đã trồng Cho hoa trổ nhiều bông Quả thêm nhiều vị ngọt Lãng nghe con chim hót Trong tán lá bàng xanh Cuộc sống thật an lành Yêu anh nhiều… người lính… Thơ Tình Lính Đảo – Tác Giả Hồng Giang Anh lại viết vần thơ tình lính đảo Lá thư hồng dào dạt sóng đại dương Bao ân tình người lính vẫn vấn vương Về quê mẹ có người thương mong ngóng Vần thơ cũng bồng bềnh như con sóng Mỗi sớm mai say đắm ấp ôm bờ Cánh Hải Âu vờn ngọn sóng thẫn thờ Con còng gió đợi chờ bờ cát trắng Biển hiền hòa trời trong xanh đẹp lắm Gió ngoài xa yên ắng hát tình ca “Nơi anh đứng là biển đảo bao la” Cành san hô nở hoa đầu ngọn súng Mỗi chiều về khi hoàng hôn tràn xuống Quây quần nhau cùng đọc lá thơ nhà Rồi hồn nhiên như đứa trẻ lên ba Cũng ôm mặt khóc òa vì nhớ mẹ Nhưng lính đảo luôn kiên cường mạnh mẽ Sóng đại dương… Khe khẽ… Đỡ con tầu! Tình Anh Lính Biên Phòng – Tác Giả Anh Pham Xin gửi tấm lòng người lính trẻ Chúc xuân về với mẹ yêu thương Trao luôn nỗi nhớ tơ vương Về em gái nhỏ quê hương đợi chờ Khi suối lội sương mờ lạnh buốt Lúc trèo đèo đẫm ướt mồ hôi Nhớ sao ánh mắt em tôi Vai gầy của mẹ da mồi tiếng ru Cha ngã xuống chiều thu lá đổ Mẹ nuôi con cực khổ luôn phần Nay thời đã lớn thành nhân Xuân rồi mẹ lại thêm lần tiễn đưa Xuân sắc thắm mai đùa trước ngõ Con đang còn nắng gió Biên Cương Xa xôi cách trở dặm trường Nhắn em gái nhỏ lòng thương chớ buồn Đêm vọng gác lòng luôn tự nhủ Lính Biên Phòng chẳng phụ lòng tin Biên Cương Biển Đảo giữ gìn Thân trai chí cả chung tình nước non Xong nhiệm vụ xin tròn hẹn ước Tay trao vòng nhẫn bước chung đôi Bên em có mẹ cùng tôi Rạng danh con cháu giống nòi Lạc Âu Tình Người Lính – Tác Giả Hùng Cường Có một thời, chúng tôi là chiến sĩ Vì quê hương, chẳng suy nghĩ gì hơn Đường hành quân, dù dốc đứng đèo trơn Vẫn vượt qua, mặc đạn bom xối xả Đời người lính, là gian nan vất vả Dưới chiến hào, cơm trộn máu bùn non Cái chết kề bên, lòng vẫn sắt son Nước mắt không rơi, dành ngày toàn thắng Tình người lính, chân thành và sâu lắng Điếu thuốc bẻ ba, viên thuốc cắn đôi Trong người lính, không có một chữ tôi Vì tất cả là của chung đồng đội Khi đã trải qua, một thời dữ dội Về đời thường, trong đội ngũ chiến binh Một thời gian khổ quên mình Bây giờ còn lại, chữ tình đậm sâu… Nụ Cười Người Lính – Tác Giả Nguyễn Văn Thành Nụ cười người lính tuyệt vời Sao vàng trên mũ rạng ngời tương lai Người lính hướng tới ngày mai Đất nước hạnh phúc lâu dài muôn năm Ngày đêm lính bón lính chăm Màu xanh áo lính ngàn năm vững bền Biên cương hải đảo khắc tên Giữ từng tấc đất vững bền dài lâu Xung phong người lính đi đầu Giữ gìn độc lập làm giầu quê hương Đi dân nhớ ở dân thương Bước chân người lính con đường tự do Toàn dân hạnh phúc ấm no Cám ơn người lính dành cho dân mình Người lính nặng nghĩa nặng tình Một lòng vì nước hết mình vì dân Chiến đấu quên cả bản thân Khó khăn vất vả tinh thần vẫn vui Trên môi vẫn nở nụ cười Giữ mãi ngọn lửa tuyệt vời thành công Việt Nam rực đỏ cờ hồng Dân giầu nước mạnh trong lòng lính vui Chiếc Ba Lô Và Người Lính – Tác Giả Nguyễn Sinh Hạ Chia tay làng xóm lên đường Ba lô mang nặng tình thương quê nhà Tình yêu hai đứa chúng ta Ba lô sau trước đậm đà thủy chung Hành quân ngủ giữa núi rừng Ba lô là gối nâng từng giấc mơ Qua sông vất vả không đò Ba lô thành chiếc phao to để dùng Xông pha lửa đạn chiến trường Ba lô che chở cứu thương kịp thời Chuyển hàng đi khắp muôn nơi Ba lô thì cứ đầy vơi tung hoành Còng lưng cõng cả trời xanh Ba lô với lá ngụy trang chung tình Mỗi lần nhận lá thư xinh Ba lô thổn thức mối tình tháng năm Nhớ nhà viết lá thư thăm Ba lô chiều chuộng làm bàn nâng niu Yêu thơ mỗi sớm mỗi chiều Ba lô góp nhặt được nhiều vần hay Đã là người lính từ đây Ba lô theo suốt từng ngày, bên nhau Gia tài chẳng có gì đâu Ba lô chở nặng một câu ân tình Tháng 12, tháng của những chàng lính, chàng bộ đội, những chàng sĩ quan. Ngoài kia bao nhiêu sóng gió, mệt mỏi, hãy vững tin làm tốt nhiệm vụ nhé, ở nhà hậu phương vẫn luôn chờ đợi và mong ngóng mọi người trở về. Thơ vui về người lính nhập ngũ Thơ về quê hương hay nhất Thơ về cây lúa Việt Nam Thơ 5 chữ quê hương đất nước Vừa rồi là những bài thơ về người lính và những bản tình ca bất hủ được sưu tầm, hi vọng các bạn sẽ yêu thích các bài thơ trên và có cái nhìn nồng hậu hơn về những người lính, người chiến sĩ hi sinh thầm lặng vì mọi người nhé. Các Bạn Đang Xem Bài Viết Tuyển Tập 25+ Thơ Về Người Lính Và Những Bản Tình Ca Bất Hủ Tại Danh Mục Thơ Việt Nam của Blog Truy Cập Blog Thường Xuyên Để Xem Nhiều Bài Viết Mới Hàng Ngày Nhé! Bài Viết Liên Quan 18+ Bài Thơ Về, Thăm Lại Mái Trường Xưa Bồi Hồi & Xúc Động 22 Bài Thơ Về Cây Lúa Việt Nam Gắn Liền Với Người Nông Dân 19+ Bài Thơ Về Trường Học, Mái Trường Gợi Nhớ Tuổi Học Trò 12+ Bài Thơ Về Lòng Yêu Nước, Tổ Quốc, Đồng Bào & Dân Tộc 10+ Bài Thơ Hay Về Tinh Thần Đoàn Kết, Tương Trợ & Vượt Khó 13+ Bài Thơ Viết Về Cô Giáo Mầm Non Hay & Ý Nghĩa Nhất Gợi Ý 17+ Bài Thơ Về Bà Ngoại Kính Yêu & Tình Cảm Dạt Dào Tuyển Tập 7+ Bài Thơ Về Bà Nội Kính Yêu Hay & Cảm Xúc Nhất
Đọc hiểu Một người lính nói về thế hệ mình - Thanh Thảo Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu ngày chúng tôi đi Các toa tàu mở toang cửa Không có gì phải che giấu nữa Những thằng lính trẻ măng Tinh nghịch ló đầu qua cửa sổ Những thằng lính trẻ măng Quân phục xùng xình Chen bám ở bậc toa như chồi như nụ Con tàu nổi hiệu còi rung hết cỡ Và dài muốn đứt hơi Hệt tiếng gã con trai ồm ồm mới vỡ Thế hệ chúng tôi Hiệu còi ấy là một lời tuyên bố Một người lính nói về thế hệ mình, Thanh Thảo, Tinh hoa thơ Việt, NXB Hội Nhà văn, 2007, tr. 141 Câu 1. Xác định thể thơ, phong cách ngôn ngữ, phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích. Câu 2. Nhân vật trữ tình trong bài thơ là ai? Được miêu tả như thế nào? Câu 3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong những câu thơ sau Những thằng lính trẻ măng Quân phục xùng xình Chen bám ở bậc toa như chồi như nụ Câu 4. Theo em, lời tuyên bố được nhắc đến trong câu thơ cuối là lời tuyên bố gì? Câu 5. Nhận xét về vẻ đẹp của những người lính trẻ trong đoạn trích trên. Câu 6. Nêu suy nghĩ về trách nhiệm của bản thân đối với đất nước. Câu 7. Viết một đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của mình về sự cần thiết phải lựa chọn lẽ sống đúng đắn đối với thế hệ trẻ ngày nay. Câu 1 - Thể thơ tự do - Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật - Phương thức biểu đạt chính Biểu cảm Câu 2. Nhân vật trữ tình trong bài thơ là chúng tôi . "Chúng tôi" được miêu tả là những người lính trẻ măng, tinh nghịch, quân phục xùng xình, tiếng ồm ồm. Câu 3. - Biện pháp tu từ So sánh người lính trẻ măng - như chồi như nụ - Tác dụng + Tăng sức biểu đạt, sức gợi hình, gợi cảm của câu thơ + Khắc họa sinh động hình tượng những người lính trẻ, tràn đầy sức sống, lạc quan yêu đời + Thể hiện niềm yêu mến tự hào của tác giả đối với những người lính thế hệ mình. Câu 4. Lời tuyên bố được nhắc đến trong câu thơ cuối là lời tuyên bố về lòng yêu nước, về quyết tâm đánh đuổi ngoại xâm, lời tuyên bố về sự hi sinh, cống hiến, về tinh thần sẵn sàng chiến đấu.. Câu 5. Nhận xét về vẻ đẹp của những người lính trẻ trong đoạn trích trên Những người lính trong đoạn trích trên là những chàng lính còn trẻ tuổi, đầy sức sống, tâm hồn lạc quan, yêu đời. Họ cũng là những con người yêu nước, sống có lí tưởng, sẵn sàng cống hiến, hi sinh vì đất nước. Câu 6. Nêu suy nghĩ về trách nhiệm của bản thân đối với đất nước - Học tập để trở thành người có ích cho xã hội, cho đất nước - Rèn luyện đạo đức, nhân cách để trở thành công dân tốt - Tích cực tham gia lao động sản xuất, tham gia các hoạt động cộng đồng - Sống có trách nhiệm với bản thân, với xã hội - Có ý thức bảo vệ, giữ gìn văn hóa dân tộc - Sẵn sàng làm nghĩa vụ quân sự khi Tổ quốc cần.. Câu 7. Có thể triển khai theo hướng sau - Lựa chọn được lẽ sống đúng đắn sẽ là động lực, nền tảng, kim chỉ nam để giúp người trẻ vượt qua khó khăn, vươn lên trong cuộc sống và hướng đến thành công - Lựa chọn được lẽ sống đúng đắn giúp thế hệ trẻ có lối sống, mục đích sống tốt đẹp, có những quyết định và hành động đúng đắn để góp phần cống hiến cho xã hội.. - Giúp tuổi trẻ sống có ý nghĩa, lạc quan yêu đời và tìm được hạnh phúc thực sự. - Giúp khẳng định nhân cách và phẩm giá con người, được người khác tôn trọng, yêu mến, tin tưởng.. - Góp phần đẩy lùi cái xấu, cái ác trong xã hội, xây dựng một xã hội phát triển, lành mạnh, nhân văn.. Xem tiếp bên dưới.. Chỉnh sửa cuối 3 Tháng tư 2023 ĐỀ 2 Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu ngày chúng tôi đi Các toa tàu mở toang cửa Không có gì phải che giấu nữa Những thằng lính trẻ măng Tinh nghịch ló đầu qua cửa sổ Những thằng lính trẻ măng Quân phục xùng xình Chen bám ở bậc toa như chồi như nụ Con tàu nổi hiệu còi rung hết cỡ Và dài muốn đứt hơi Hệt tiếng gã con trai ồm ồm mới vỡ Thế hệ chúng tôi Hiệu còi ấy là một lời tuyên bố Một người lính nói về thế hệ mình, Thanh Thảo, Tinh hoa thơ Việt, NXB Hội Nhà văn, 2007, tr. 141 Chọn đáp án đúng Câu 1. Thể thơ của văn bản trên không giống với thể thơ của văn bản nào sau đây? A. Đất nước - Nguyễn Đình Thi B. Lính đảo hát tình ca trên đảo - Trần Đăng Khoa C. Mùa hoa mận - Chu Thùy Liên D. Bảo kính cảnh giới 43 - Nguyễn Trãi Câu 2. Đoạn trích trên viết về đề tài A. Người lính B. Con tàu C. Chiến tranh D. Hòa bình Câu 3. Chúng tôi trong đoạn trích là ai? A. Những nữ thanh niên xung phong D. Những anh dân quân dũng cảm C. Những chàng lính trẻ D. Những người vợ trẻ hậu phương Câu 4. Những chàng lính trong đoạn trích được miêu tả như thế nào? A. Trẻ măng, tinh nghịch B. Quân phục xùng xình C. Tiếng ồm ồm mới vỡ D. Cả A, B, C Câu 5. Những câu thơ nào sử dụng biện pháp tu từ so sánh? A. Hệt tiếng gã con trai ồm ồm mới vỡ/ Chen bám ở bậc toa như chồi như nụ B. Và dài muốn đứt hơi/Hệt tiếng gã con trai ồm ồm mới vỡ C. Những thằng lính trẻ măng/ Chen bám ở bậc toa như chồi như nụ D. Các toa tàu mở toang cửa/ Không có gì phải che giấu nữa Câu 6. Biện pháp tu từ trong câu Chen bám ở bậc toa như chồi như nụ là A. Ẩn dụ B. So sánh C. Nhân hóa D. Điệp từ Câu 7. Hình ảnh chồi, nụ trong những câu thơ Những thằng lính trẻ măng - Quân phục xùng xình - Chen bám ở bậc toa như chồi như nụ gợi lên điều gì? A. Cảnh thiên nhiên đẹp, đầy sức sống B. Bức tranh mùa xuân nhiều chồi, nụ C. Sức sống, tuổi trẻ của những chàng lính D. Nỗi nhớ quê hương của những chàng lính Câu 8. Vẻ đẹp của những người lính trẻ trong đoạn trích trên A. Bất khuất, dũng cảm, sẵn sàng chiến đấu vì nhiệm vụ quốc tế cao cả B. Trẻ trung, đầy sức sống, lạc quan, yêu đời, yêu đất nước C. Tâm hồn lãng mạn, mộng mơ, rất đỗi hào hoa, thanh lịch D. Tinh thần thép kiên cường vượt lên trên hoàn cảnh khắc nghiệt. Câu 9. Tình cảm, thái độ của nhà thơ thể hiện trong đoạn trích là A. Tiếc nuối cho những con người còn quá trẻ đã phải hi sinh B. Xót xa cho những vất vả, gian truân mà người lính đã trải qua C. Ngợi ca tinh thần hi sinh anh dũng của người lính D. Ngợi ca vẻ đẹp hồn nhiên, trẻ trung, yêu đời, yêu đất nước của người lính. Câu 10. Cảm hứng chủ đạo của đoạn trích là A. Cảm hứng bi tráng B. Cảm hứng ngợi ca, tự hào C. Cảm hứng phê phán D. Cảm hứng bi lụy Câu 1. D. Bảo kính cảnh giới 43 - Nguyễn Trãi Câu 2. A. Người lính Câu 3. C. Những chàng lính trẻ Câu 4. D. Cả A, B, C Câu 5. A. Hệt tiếng gã con trai ồm ồm mới vỡ/ Chen bám ở bậc toa như chồi như nụ Câu 6. B. So sánh Câu 7. C. Sức sống, tuổi trẻ của những chàng lính Câu 8. B. Trẻ trung, đầy sức sống, lạc quan, yêu đời, yêu đất nước Câu 9. D. Ngợi ca vẻ đẹp hồn nhiên, trẻ trung, yêu đời, yêu đất nước của người lính. Câu 10. B. Cảm hứng ngợi ca, tự hào thanh thảo